Saturday, 24/10/2020 - 16:25|
Chào mừng bạn đến với cổng thông tin điện tử của Trường Tiểu học Hồng Tiến I
A- A A+ | Tăng tương phản Giảm tương phản

Tuyên truyền phòng, chống bệnh sốt xuất huyết và quai bị

 

Xung quanh chúng ta có rất nhiều các bệnh truyền nhiễm, chúng sống ở nhiều môi trường khác nhau và lây truyền sang con người qua nhiều đường truyền khác nhau như: bệnh quai bị, bệnh sốt xuất huyết. Muốn phòng tránh hiệu quả 2 loại bệnh trên thì chúng ta phải hiểu biết về bệnh, phải biết bệnh do loại virus, vi trùng  nào gây ra, môi trường sống của chúng như thế nào, chúng lây lan sang con người bằng con đường gì và hôm nay cô và các em sẽ cùng đi tìm hiểu.

I. Bệnh sốt xuất huyết

Là một bệnh truyền nhiễm cấp tính do siêu vi trùng dengue gây ra.

1. Nguyên nhân

Do muỗi vằn hút máu truyền siêu vi trùng từ người bệnh sang người lành.

2. Triệu chứng của bệnh

- Sốt cao 39 - 40 độ, đột ngột liên tục trong 3 - 4 ngày, người biếng ăn, mệt mỏi

- Xuất huyết xảy ra ở nhiều dạng

+ Xuất huyết dưới da: Xuất hiện trên mặt da những chấm nhỏ màu đỏ, đốm đỏ hay vết bầm.

+ Chảy máu cam, chảy máu chân răng, nướu răng.

+ Nôn hoặc đi cầu ra máu (chất nôn màu nâu, phân lệt sệt như bã cà phê hoặc đỏ tươi).

- Đau bụng

- Sốc: là dấu hiệu nặng thường xuất hiện từ ngày thứ 3 - 6 của bệnh, đặc biệt lúc đang sốt cao chuyển sang hết sốt và có thể xảy ra kể cả khi không thấy rõ dấu hiệu xuất huyết

- Dấu hiệu sốc

+ Người mệt li bì hoặc vật vã, chân tay lạnh, tiểu ít

+ Có thể kèm theo nôn hoặc đi cầu ra máu

3. Biện pháp phòng, chống sốt xuất huyết

* Thứ nhất: Diệt loăng quăng nhằm hạn chế phát sinh của muỗi vằn bằng cách: Các dụng cụ chứa nước cần phải được đậy nắp kín để muỗi không vào đẻ trứng. Các dụng cụ chứa nước nhất là bể chứa nước to cần thả cá 7 màu  để ăn loăng quăng. Thường xuyên cọ rửa các dụng cụ chứa nước ít nhất mổi tuần 1 lần để loại bỏ loăng quăng. Xung quanh nhà nên vệ sinh sạch sẽ, khai thông bụi rậm thu gom, loại bỏ vật dụng chứa nước không cần thiết như: các loại vỏ lon, xô, chậu,…để không còn nơi cho muỗi đẻ trứng. Thường xuyên kiểm tra các dụng cụ chứa nước trong và xung quanh nhà ở, nhà trường, khi phát hiện có loăng quăng phải xử lý kịp thời.

* Thứ 2: Tích cực phòng tránh muỗi đốt bằng cách:

- Ngủ màn kể cả ngày lẫn đêm.

- Dùng nhang xua muỗi và dùng bình xịt muỗi tại nhà để diệt muỗi.

- Dọn dẹp nhà cửa sạch sẽ, gọn gàng, thông thoáng để hạn chế muỗi chú ẩn.

* Thứ 3: Khi có dấu hiệu sốt cao đột ngột, xuất huyết dưới da cần đưa ngayngười bệnh đến cơ sở y tế để được chẩn đoán, tư vấn, theo dõi và điều trị kịp thời.

II. Bệnh quai bị

Quai bị là một bệnh truyền nhiễm cấp tính, thường xuất hiện nhiều vào mùa xuân, hè, tuy nhiên bệnh có thể xảy ra quanh năm kể cả vào mùa thu, đông. Bệnh thường phát triển thành dịch ở những tập thể đông đúc như nhà trẻ, trường học. Đây là một bệnh nhẹ nhưng nếu không được phát hiện sớm và điều trị kịp thời có thể gây ra những biến chứng nguy hiểm như viêm não, viêm màng não, đặc biệt nguy hiểm nhất là viêm sưng tinh hoàn, thường là một bên, xảy ra từ 20 - 30% ở nam giới, có thể gây ra chứng vô sinh.

1. Nguyên nhân

Quai bị do một loại siêu virus gây ra, rất dễ lây qua đường hô hấp và đường ăn uống, qua những giọt nước bọt khi nói, ho, hắt hơi. Bệnh thường hay gặp ở trẻ nhỏ, trẻ lớn chưa được tiêm phòng quai bị và lứa tuổi vị thành niên chưa có miễn dịch quai bị, người lớn cũng có thể mắc nhưng tỷ lệ thấp hơn. Thời gian lây là từ 6 ngày trước thời kỳ toàn phát và đến 2 tuần sau khi có triệu chứng bệnh lý.

2. Triệu chứng của bệnh

- Khi bị nhiễm virus quai bị, phần lớn bệnh nhân thấy khó chịu từ 1 - 2 ngày trước khi các triệu chứng xuất hiện.

- Bệnh nhân bị sốt cao (39 – 40độ) trong 3 - 4 ngày, tăng tiết nước bọt, sưng vùng mang tai, dấu hiệu dễ nhận biết nhất là má sưng to, có thể sưng một bên mặt rồi lan sang bên kia hoặc sưng hai bên cùng một lúc. Tuy nhiên, có khoảng 25% người bị nhiễm virus quai bị mà không có triệu chứng bệnh lý, đây là những đối tượng có khả năng truyền bệnh mà người xung quanh không biết.

- Bệnh thường tự khỏi sau 1 tuần đến 10 ngày. Sau đó, bệnh nhân được miễn dịch suốt đời.

- Bệnh quai bị ở người lớn thường nặng và có nhiều biến chứng hơn ở trẻ em nếu không được phát hiện sớm và điều trị kịp thời có thể có các biến chứng như: viêm tinh hoàn và mào tinh hoàn, viêm buồng trứng, viêm tụy, tổn thương thần kinh, đặc biệt bệnh quai bị ở phụ nữ có thai trong 3 tháng đầu của thai kỳ có thể gây sẩy thai hoặc sinh con dị dạng, trong 3 tháng cuối của thai kỳ có thể sinh non hoặc thai chết lưu.

3. Biện pháp phòng, chống bệnh quai bị

- Đây là bệnh do virus gây ra nên chưa có thuốc điều trị đặc hiệu, các trường hợp mắc bệnh phải được nghỉ ngơi tại chỗ, ăn thức ăn mềm, dễ nuốt.

- Khi bị mắc bệnh, người bệnh cần vệ sinh răng miệng thường xuyên, cần được cách ly trong khoảng 2 tuần kể từ khi có triệu chứng sưng ở mang tai.

- Có thể giảm đau tại chỗ bằng cách đắp ấm vùng sưng, giảm đau toàn thân và hạ sốt bằng Paracetamol. Trường hợp viêm tinh hoàn, chú ý mặc quần lót nâng tinh hoàn để giảm đau, nghỉ ngơi là chủ yếu, hạn chế vận động. Trường hợp bệnh nhân đã giảm sốt mà sốt trở lại hoặc đau vùng bụng dưới cần đưa đến cơ sở y tế để khám và điều trị tránh biến chứng nặng hơn.

- Học sinh bị bệnh không được đến trường, vì nếu đến trường sẽ là nguồn lây bệnh cho các bạn xung quanh.

- Người lớn mắc bệnh cũng cần được cách ly như trẻ nhỏ tại phòng riêng.

- Các đồ vật có liên quan đến chất tiết mũi, họng phải được diệt khuẩn tốt.

- Cách ly người bị nhiễm bệnh: đeo khẩu trang, che miệng khi hắt hơi, hạn chế tiếp xúc, tụ tập nơi đông người,...

- Vệ sinh sạch sẽ thân thể, rửa tay bằng xà phòng, giữ vệ sinh tốt môi trường xung quanh.

- Để phòng bệnh, ngoài các biện pháp cách ly với người bệnh thì phương pháp tiêm phòng là tốt nhất. Hơn 95% những người tiêm chủng được miễn dịch rất lâu, có thể suốt đời. Vaccine có thể tiêm bất kỳ lúc nào từ 12 tháng tuổi trở lên. Trẻ vị thành niên và người lớn nếu đã có tiếp xúc với bệnh nhân quai bị nhưng chưa có tiền sử mắc quai bị và chưa được tiêm chủng theo lịch phòng bệnh quai bị thì nên tiêm chủng để có thể phòng bệnh tốt nhất cho bản thân và gia đình mình.

 

 


Tác giả: Dương Thị Hường
Nguồn:Hoạt đông Y tế Copy link
Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết
Bài tin liên quan
Chính phủ điện tử
Tin đọc nhiều
Liên kết website
Thống kê truy cập
Hôm nay : 10
Hôm qua : 26
Tháng 10 : 897
Năm 2020 : 9.718